Việt Nam đang triển khai nhiều biện pháp bảo vệ môi trường và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn. Đây là “lá chắn xanh” quan trọng, chống xói lở bờ biển, bảo vệ đa dạng sinh học và sinh kế cho người dân ven biển. Trong đó, tỉnh Hưng Yên và Hải Phòng là những điển hình tiêu biểu với các chương trình phục hồi và phát triển rừng ngập mặn gắn liền với phát triển kinh tế, xã hội bền vững. Nghe bài viết tại đây:
Chỉ tính riêng 4 xã ven biển: Thái Thụy, Thái Ninh, Đông Thái Ninh, Đông Thụy Anh hiện có tới hơn 2.000 ha rừng ngập mặn với các loại cây trang, bần, sú, mắm… Bà Tô Thị Minh, ở xã Thái Thụy, tỉnh Hưng Yên cho biết lúc mới trồng, cây có mật độ từ 1.600 - 2.500 cây/ha. Sau khi được nghe truyền thông, nhận thấy giá trị to lớn của rừng ngập mặn nên bà đã cùng với bà con trong xã tham gia tích cực vào việc trồng rừng ngập mặn.
“Từ hơn 40 năm trước, năm nào chúng tôi cũng trồng, từ tháng 4 đến tháng 8 âm lịch. Do trời nắng và thủy triều nên chúng tôi trồng vào ban đêm”, bà Minh nhớ lại.
Bà Minh cho biết, có những thời điểm vừa trồng xong thì bão ập tới, toàn bộ công sức bị sóng biển đánh tan. Tuy nhiên, nhìn vào con đê biển bị sóng biển làm vỡ, bà con càng thêm quyết tâm phủ xanh những vùng đất trống. Cứ như thế, hỏng tới đâu bà con trồng lại tới đó. Đến nay, rừng đã khép tán, trở thành “bức tường thành” vững chắc bảo vệ người dân.
“Rừng ngập mặn chắn sóng rất hiệu quả. Trước kia, khi chưa có rừng ngập mặn, cứ mỗi lần trời nổi giông bão là bà con chúng tôi lo nơp lớp”, bà Minh kể.
Thành phố Hải Phòng cũng là một trong những địa phương thường xuyên bị ảnh hưởng nặng nề bởi biển đổi khí hậu. Như một giải pháp để phòng ngừa, giảm thiểu tác động của những hiện tượng thời tiết cực đoan, từ lâu, địa phương này luôn quan tâm công tác trồng rừng ngập mặn.
Đến nay, tuy diện tích rừng không lớn như một số tỉnh miền Trung và phía Bắc nhưng Hải Phòng lại có hệ thống rừng ngập mặn ven biển trải dài với tổng diện tích khoảng 2.800 ha.
Gắn bó nhiều năm với mảnh đất quê hương, ông Cao Sỹ Tập và Cao Sỹ Thường, ở phường Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng cho biết, từ khi rừng ngập mặn phát triển, ông không còn lo lắng về bão và sóng biển nữa.
“Rừng ngập mặn chắn sóng rất tốt nên bây giờ - khi có bão lũ chúng tôi không còn lo lắng như trước nữa”, ông Tập chia sẻ.
“Trước đây, khi chưa có rừng ngập mặn, đê biển thường xuyên bị sóng biển đe dọa khi mưa bão. Bây giờ, chúng tôi không còn lo vỡ đê, vì nhờ có rừng ngập mặn, sóng biển và gió giảm đi nhiều”, ông Thường cho biết.
Ngoài tác dụng chắn sóng, hạn chế tác động của những hiện tượng thời tiết cực đoan, rừng ngập mặn còn đem lại những nguồn lợi về hải sản cho người dân nơi đây.
“Ngày nào cũng có người dân trong phương ra bắt cua, bắt cáy. Người ít thì được chừng 3 kg, người nhiều thì khoảng 4 kg, nói chung phấn khởi vì có thu nhập”, một người dân ở phường Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng cho biết.
“Từ ngày có rừng ngập mặn, bà con trong phường, nhất là những người lớn tuổi, không đi làm tại các công ty được nữa, thì ra khu vực ven biển bắt cua, bắt cáy làm kế sinh nhai. Vì chỉ khi có rừng ngập mặn thì cua, cáy ốc… mới vào ở nhiều”, một người dân ở phường Đồ Sơn, Hải Phòng chia sẻ.
Thậm chí, thời gian qua, những cánh rừng ngập mặn còn trở thành điểm đến du lịch lý tưởng, giúp các địa phương phát triển kinh tế nhanh và bền vững.
Tự hào là một trong những tổ chức có đóng góp thiết thực vào việc trồng và bảo vệ rừng ngập mặn tại nhiều địa phương trong cả nước, bà Phạm Thị Hà Chiên, Trưởng Ban Tổ chức - Kiểm tra, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, cho biết, thời gian tới, Hội sẽ tiếp tục quan tâm, thực hiện các dự án trồng rừng ngập mặn.
“Từ năm 1992, Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam đã triển khai các chương trình trồng rừng ngập mặn. Hiện nay, rừng ngập mặn đã được cấp có thẩm quyền quản lý chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, nhận thấy lợi ích to lớn mà rừng ngập mặn mang lại, từ năm 2024, Hội Chữ thập đỏ bắt đầu quay lại hoạt động trồng và bảo vệ rừng ngập mặn với định hướng ‘tăng trưởng xanh’ trong các hoạt động”, bà Chiên cho biết.
Trên phạm vi cả nước, các biện pháp bảo vệ môi trường rừng ngập mặn bao gồm: Khoanh nuôi, trồng mới và phục hồi rừng bị suy thoái, sử dụng các loài cây bản địa như sú, vẹt, đước, mắm; thứ hai là quản lý rừng cộng đồng, giao quyền bảo vệ và hưởng lợi cho người dân, giúp tăng trách nhiệm và tạo sinh kế từ nuôi trồng thủy sản bền vững dưới tán rừng; tiếp theo là tăng cường kiểm soát ô nhiễm nguồn nước, hạn chế xả thải công nghiệp và nông nghiệp ra vùng cửa sông, ven biển; Thứ tư là ứng dụng khoa học công nghệ trong giám sát rừng bằng ảnh vệ tinh, GIS; cuối cùng là trồng rừng kết hợp thích ứng biến đổi khí hậu, chống xâm nhập mặn và nước biển dâng.
